Giới thiệu sách: "Hát chầu văn" - Nxb Âm nhạc .- 1998

                                      Đỗ Thị Thuý Hiền
        (Phó Trưởng khoa Văn hoá du lịch Trường Trung học
                    Văn hoá Nghệ thuật tỉnh Nam Định).


Khi nói đến Bắc Ninh ta thường nghĩ tới hát quan họ, nhắc tới hát chèo ta nghĩ tới Thái Bình, còn khi nói tới Nam Định ta nghĩ ngay tới hát chầu văn. Hát chầu văn là một nét văn hoá đặc sắc của Nam Định, là một loại hình nghệ thuật độc đáo trong kho tàng ca nhạc cổ truyền Việt Nam. Nam Định cũng được coi là cái nôi của loại hình nghệ thuật này. Người Nam Định không ai là không một lần nghe hát chầu văn. Nhiều người biết hát chầu văn. Chầu văn là niềm tự hào của người Nam Định. Nhưng chầu văn xuất xứ từ đâu, được hát ở những nơi thế nào, có bao nhiêu làn điệu... thì ít ai biết rõ. Nhạc sĩ Bùi Đình Thảo và tác giả Nguyễn Quang Hải đã giúp chúng ta giải đáp những câu hỏi trên bằng việc cho ra đời cuốn "Hát chầu văn”. Bùi Đình Thảo là nhạc sĩ chuyên viết ca khúc cho thiếu nhi, nổi tiếng với bài Đi học. Cùng với nhà nghiên cứu văn hoá Nguyễn Quang Hải nhiều năm công tác trong ngành văn hoá thông tin tỉnh Hà Nam Ninh, với kinh nghiệm và kiến thức phong phú, sâu sắc về văn hoá dân gian nói chung và nghệ thuật hát chầu văn nói riêng của Nam Định, hai tác giả đã viết thành công cuốn Hát chầu văn.
Hát chầu văn do nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành năm 1998, khổ 14,5 x 20,5 cm, dày 210 trang, nhiều hình ảnh minh hoạ.
Nội dung sách gồm 5 vấn đề về nghệ thuật hát chầu văn, được thể hiện thành 5 chương.
Chương mở đầu: Nguồn gốc lịch sử nghệ thuật hát chầu văn.
Việc tìm hiểu nguồn gốc nghệ thuật cổ truyền nói chung, dân ca nói riêng được các nhà nghiên cứu căn cứ vào bí đá, sách vở, truyền thuyết dân gian... Bóc đi lớp vỏ huyền thoại hoang đường, truyền thuyết sẽ còn lại sự thật lịch sử có giá trị nhất định. Nam Định có nhiều danh nhân, truyền thuyết, lễ hội, di tích lịch sử văn hoá, đền, miếu, chùa, phủ - nơi nghệ thuật hát chầu văn hình thành và phát triển. Dân gian có câu: "Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” nói về Trần Hưng Đạo và Mẫu Liễu Hạnh - hai người trong Tứ bất tử (Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Trần Hưng đạo, Liễu Hạnh). Trần Hưng Đạo gắn liền với khu vực di tích và lễ hội Đền Trần - Chùa Tháp của thành phố Nam Định. Liễu Hạnh gắn liền với di tích và lễ hội Phủ Giày huyện Vụ Bản. Chính trong bối cảnh sinh hoạt văn hoá lễ hội của các nơi này hát chầu chầu văn ra đời.
Chương I:
Tác giả kể truyền thuyết về đức Thánh Trần và Mẫu Liễu Hạnh. Đồng thời cho ta biết nghệ thuật hát chầu văn ra đời bắt nguồn từ việc thờ cúng các vị thánh này ra sao. Điều thú vị là các tác giả còn cho bạn đọc biết truyền thuyết công chúa Thượng Ngàn, và chính công chúa đã hát chầu văn xưa kia... Vì phủ cai quản 81 cửa rừng nên công chúa Thượng Ngàn thường ngao du ẩn hiện đó đây. Tiếng hát của công chúa quyến rũ mê hồn làm ai ai nghe thấy cũng phải mến yêu. Dân gian đã học được thiếng hát của công chúa với tiếng bổng, tiếng trầm, giọng trong, giọng đục và thêm thắt vào đó những âm điệu phong phú của thiên nhiên dựa theo cảm nhận về phong khí núi sông thành những bài hát ca ngợi chúa tiên. Nghệ thuật hát đó về sau được dùng hát chầu các vị thánh thần và truyền tụng mãi về sau, gọi là hát chầu văn. Hát chầu văn còn bắt nguồn từ nhiều truyền thuyết và giả thuyết khác. Mời các bạn đọc trong sách để biết điều này.
Hát chầu văn trước cách mạng tháng tám bị thực dân phong kiến lợi dụng gây mê tín dị đoan, chủ yếu là hát hầu bóng. Ngày nay hát chầu văn được đánh giá đúng mức, hoà nhập vào gia đình nghệ thuật dân tộc, phục vụ nhân dân. Bên cạnh việc hát các bài văn mới, hát chầu văn là hát các giá văn chầu thánh và là nghi thức không thể thiếu trong một số lễ hội có hầu bóng lên đồng. Nhưng đó chỉ là phần "xác” mà hát chầu văn vốn có từ khi ra đời, còn phần "hồn” trong sáng là những làn điệu chầu văn phong phú đa dạng và quyến rũ. Hát chầu văn được kế thừa và phát triển, tước bỏ đi phần mê tín dị đoan, giữ lại phần trong sáng lành mạnh. Mỗi loại hình nghệ thuật dân gian đều có quy ước hình thức diễn xướng, thời gian, địa điểm và tổ chức phường hội phù hợp. Vậy hát chầu văn được hát vào dịp nào, cách thức lập phương hội, cung văn và con đồng ra sao, mời các bạn đọc trong sách.
Chương II: Nghệ thuật hát chầu văn. Phần này tác giả trình bày về hoàn cảnh hát chầu văn chủ yếu trong lên đồng ở Tứ phủ, Tam phủ, thành phần, vị trí, thời gian cuộc hầu bóng, cách trang phục của con đồng và cung văn tùy theo đối tượng hầu là ai... Chẳng hạn cô Bé Sơn Trang ăn mặc như người Dao, chân quấn xà cạp, cô Đôi thêm vòng đeo cổ, cô Năm  và cô Bảy có yếm "xà lê” thêu rồng trước ngực... Chương này còn cho chúng ta hiểu về nét đặc thù nghệ thuật múa trong lên đồng khác với múa chuyên nghiệp ra sao.
Chương III và chương IV: Sưu tầm tuyển chọn giới thiệu 50 văn bản các giá văn và hầu hết các làn điệu chủ yếu của hát chầu văn. Các giá văn hát chầu văn được lưu truyền bằng miệng qua nhiều đời, tất yếu có sự thất lạc, sai khác. Các tác giả đã dày công sưu tầm để có 50 văn bản cung cấp cho bạn đọc, trong đó có nhiều bài văn cổ như văn Đức Thánh Trần, văn Liễu Hạnh công chúa, văn Quan Hoàng, văn chầu... Trước khi trình bày văn bản cụ thể, tác giả khái quát nội dung, nêu đặc điểm kết cấu của các bài hát chầu văn để bạn đọc tiện theo dõi. Chẳng hạn mở đầu bao giờ cũng có câu "thỉnh” vị thánh thần hiện thân của giá đồng sẽ thể hiện. Ví dụ:
    Thỉnh mời công chúa Thiên Thai
    Giáng sinh hạ giới quyền cai thượng ngàn
.
Hầu hết các chầu văn chính đều có lời, có nhạc, có giải thích rõ ràng cụ thể thế nào là "Dọc”, "Cờn”, "Xá”... và cách sử dụng các nhạc cụ như trống, phách, thanh la... Chỉ cần có kiến thức âm nhạc cơ bản là bạn đọc có thể hát được chầu văn như cờn, xá, phú...
Phần cuối cuốn sách tác giả trình bày việc kế thừa và phát triển nghệ thuật hát chầu văn. Sau cách mạng tháng tám 1945, hoạt động sân khấu Việt Nam chú trọng đưa vào các hình thức nghệ thuật cổ tuyền nộị dung mới phù hợp với thời đại theo khẩu hiệu "bình cũ rượu mới”. Hát chầu văn được phổ biến rộng rãi và đạt tới đỉnh cao nghệ thuật, được người người yêu mến. Còn với nét duyên dáng trữ tình, điệu phú reo vui, xá thượng với nét đĩnh đạc... thực sự gây được cảm xúc mạnh sâu sắc trong người nghe.
Tóm lại, cuốn sách cung cấp cho bạn đọc hiểu biết phong phú về hát chầu văn, giá trị của môn nghệ thuật độc đáo này. Đặc biệt đối với người Nam Định, niềm tự hào về văn hóa quê hương càng được nâng cao, thấy trách nhiệm của mình phải góp phần vào duy trì phát triển nghệ thuật hát chầu văn.
 

Hỗ trợ
send email Yahoo
Liên kết web :
Đang online : 11
Hôm nay : 206
Tháng hiện tại : 6036
Tổng lượt truy cập : 525308
http://huyenbi.net/Xem-ngay-tot-xau.html